Kỳ 7: Hợp tác lần hai - Tưởng Giới Thạch diễn kịch

Cánh cửa Tây An khép lại ngày 25 tháng 12 năm 1936. Tưởng Giới Thạch đặt chân lên máy bay trở về Nam Kinh - không có gì ký kết, không có văn bản nào, chỉ có lời hứa miệng của một người vừa thoát chết. Nhưng từ giây phút đó, bàn cờ Trung Quốc đã sang trang mới hoàn toàn.
Tưởng Giới Thạch về Nam Kinh: người hùng hay tội nhân?
Chiếc máy bay hạ cánh xuống phi trường Nam Kinh. Người ta tưởng sự biến Tây An hoàn toàn hạ màn. Thế nhưng với con người ưa diễn kịch như Tưởng Giới Thạch thì sân khấu Nam Kinh vẫn tiếp nối những màn của ông. Tưởng vừa về đến Nam Kinh thì Khổng Tường Hy lập tức ra thông báo thôi giữ chức quyền viện trưởng viện hành chính - mọi công việc phục vị Tưởng viện trưởng điều khiển.
Đây là một “kịch bản” xuất sắc. Tưởng bị nghĩa quân vây bắt ở Tây An, Khổng lên thay - nay Tưởng được phóng thích và trở lại chức vụ cũ là đương nhiên, nhưng ông lại đề xuất một vấn đề không ai ngờ tới: “Để thể hiện trách nhiệm hành chánh và ủy viên trưởng hội đồng quân sự.” Đề xuất không được chấp nhận, người ta chỉ đồng ý cho ông nghỉ một tháng để chữa bệnh - khi nhảy qua tường rào ở Hoa Thanh Trì định trốn thoát, Tưởng bị ngã khá đau và bắt đầu chứng nhức lưng từ bấy.
Ở Tây An, Tưởng đã hứa “từ nay về sau tôi sẽ không tiễu Cộng nữa” - về đến Nam Kinh ông lại tiếp tục phát triển trên “Trung ương nhật báo” rằng tinh thần yêu nước của quốc dân đồng bào thật là nhiệt thành, sẽ đảm bảo cho sự phục hưng của dân tộc v.v… Ngày 2 tháng 1 năm 1937, Tưởng và Tống Mỹ Linh đáp máy bay về Khê Khẩu nghỉ phép dưỡng bệnh, ngày ngày hương khói cho mẹ và anh trai. Nhưng kỳ thực đó là thời gian để Tưởng suy ngẫm tiếp tục nước cờ “yên trong” của mình - ông vẫn luôn luôn điều khiển từ xa đối với Nam Kinh.
Trương Học Lương - tù nhân của lòng trung thành
Giải quyết Tưởng Giới Thạch xong, còn Trương Học Lương thì sao? Đây là bài toán hóc búa: cho Trương về lại Tây An - mặt mũi Tưởng biết để đâu? Bắt giam Trương - chịu thế nào với dư luận, người ta thả ông ta ra, còn thân hành tháp tùng ông ấy hồi kinh an toàn, vậy mà nỡ, thật là tiểu nhân! Tưởng Giới Thạch trong bụng bày ưu tính kế đã nghĩ ra một giải pháp vẹn toàn.
Trên đường bay Tây An - Nam Kinh, tất nhiên là Trương Học Lương không được ngồi cùng phi cơ với Tưởng. Ông và 7 người tùy tùng hạ cánh sau Tưởng một tí, liền lên xe với Tống Tử Văn thẳng về dinh thự họ Tống. Những ngày đầu Trương sống nhàn nhã, tự do đi thăm thú bạn bè - đương nhiên lúc nào cũng có 2 xe bám riết để “bảo vệ” ông.
Nhưng đến sáng ngày 31 tháng 12 năm 1936, Trương được mời đến hội nghị hội đồng quân sự. Ông bước vào phòng họp - không phải hội nghị, đây là tòa án binh xử Trương Học Lương vì trọng tội “bạo hành uy bức thượng quan”, lãnh án mười năm tù. Tại phiên tòa lịch sử này, Trương Học Lương cho công bố mật điện của Tưởng Giới Thạch gửi cho ông ngày 16 tháng 9 năm 1931 - hai ngày trước khi xảy ra sự biến “9.18”:
“Dù quân Nhật ở Đông Bắc có khiêu khích như thế nào, quân ta cũng không được đề kháng chống trả, tránh mọi xung đột.”
Với chỉ thị đó, Trương bị người đời chê trách là “tướng quân không đề kháng”, bị Trung Cộng liệt vào “quân bán nước” và 3 tỉnh Đông Bắc bị Nhật xâm chiếm. Trương đọc bức điện Tưởng gửi trước quan tòa rồi khẳng định: “về chủ trương, tôi hoàn toàn không sai”.
Chiều hôm ấy, Tưởng trình lên chính phủ lời cầu xin ân xá cho Trương, chính phủ chuẩn y và giao quân đội, Hội đồng quân sự quân thúc. Kịch bản của Tưởng Giới Thạch là xử án → ân xá → quân thúc: vừa rất thương gia, vừa rất cứng rắn. Một khi Trương Học Lương đã sa vào mạng lưới quân thúc của quân đội thì không ai còn biết được cuộc đời đày ải đã diễn ra như thế nào đối với ông.
Trương từng bị cầm tù hơn 50 năm, lần lượt đi qua Khê Khẩu - Phụng Hóa, Hoàng Sơn - An Huy, Bình Hương - Giang Tây, Bang Châu, Vĩnh Hưng, Nguyên Lăng - Hồ Nam… Năm 1946, người ta bí mật đưa ông ra Đài Loan, vẫn cầm tù quân thúc cho tới năm 1986. Khúc bi tráng Tây An và những cảnh đời chìm nổi của tác giả, không chỉ vang vọng một lần trong ký ức.
Mao Trạch Đông - kẻ thắng lớn ở Tây An
Còn Mao Trạch Đông, ông thắng to qua ván cờ sự biến Tây An. Ông công bố nhiều văn bản quan trọng, tiếp tục chỉ thị cho toàn thể Trung Cộng giám sát và buộc Tưởng Giới Thạch làm đúng lời hứa kháng Nhật cứu nước, vui về việc dời Hồng đô từ Bảo An về Diên An - một căn cứ to lớn hơn, vị trí chiến lược hơn nhiều so với Bảo An.
Vòng đàm phán Quốc - Cộng đầu tiên được giao cho Chu Ân Lai và Cố Chúc Đồng - quân nhân tin tưởng của Tưởng Giới Thạch, tốt nghiệp trường sĩ quan lục quân Bảo Định, tham gia giảng dạy môn chiến thuật quân sự ở trường Hoàng Phố. Trước khi lên đường đi Tây An, Tưởng đã căn dặn Chúc Đồng “lấy chính trị làm chủ, quân sự là hỗ trợ”. Từ Lạc Dương, Cố Chúc Đồng chỉ huy 5 tập đoàn quân tiến vào Tây An một cách êm thuận và theo kịch bản của Tưởng giao, cùng Chu Ân Lai đàm phán nhằm hòa tan Hồng quân vào với Nam Kinh.
Từ Diên An, Mao - Lạc điện báo cho Chu Ân Lai về các yêu cầu quân sự: biên chế Hồng quân thành 12 sư đoàn, 4 quân đoàn với số lượng 5 vạn quân. Đặng Tiểu Bằng - người luôn bên cạnh Chu Ân Lai lúc bấy giờ - đã hồi ức rằng như một con thoi, Chu Ân Lai bay đi bay lại trên bầu trời Tây An - Diên An không biết bao nhiêu lần để liên lạc với Trung Cộng và triển khai ý đồ của Mao Trạch Đông trong đàm phán.
Thách giá, trả giá ở Tân An
Cuộc hội đàm Chu - Cố ở Tân An những ngày đầu năm 1937 thực chất là sự thách giá, trả giá giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch trước khi đi vào hợp tác kháng Nhật. Ngày 16 tháng 2, Tưởng mật điện cho Cố Chúc Đồng quy định “khung giá”: binh lực của Hồng quân không quá 1 vạn 5 ngàn quân. Phía Mao liền “trả giá”: phải trên 5 vạn người. Cuộc thách giá, trả giá cứ vậy mà nhùng nhằng giữa Diên An và Hàng Châu.
Người ta lại tung tin Tưởng Giới Thạch bổ nhiệm Mao Trạch Đông làm chủ tịch tỉnh Cam Túc, Mao cười sảng khoái và nói: “ông ấy quá khôi hài”. Sau này tra cứu sử tư liệu mới hay Tưởng đã có ý đồ ngông cuồng như vậy, thậm chí còn muốn tìm cách đưa Mao xuất dương hồng gạt bớt mũi nhọn. Tưởng đâu biết trong đời làm chính trị, Mao không hề ra nước ngoài khi chưa nắm chức quyền.
Cuối tháng 3 năm 1937, Tưởng Giới Thạch mời Chu Ân Lai về Hàng Châu tiếp tục đàm phán. Tưởng gặp lại Chu, lòng rất phấn khởi - vì mới 3 tháng trước đây nhờ sự quả đoán và lão luyện của Chu Ân Lai mà Tưởng được cứu nguy khỏi “bạo loạn” Tây An, ấn tượng ấy chưa thể phai mờ được.
Ngày 2 tháng 4, Mao Trạch Đông, Trương Văn Thiên, Bác Cổ, Bành Đức Hoài, Lâm Bá Cừ v.v… tề tựu trên sân bay Diên An, nồng nhiệt đón Chu Ân Lai vừa từ đàm phán với Tưởng trở về. Ngay sau đó Trung Cộng chấp nhận “Hồng quân cải danh, Khu Xô-viết cải chế”. Chủ trương Quốc - Cộng hợp tác nhanh chóng lan truyền ở Diên An. Nhiều người không nghĩ ra nổi: đấu đi đấu lại, cuối cùng chui đầu vào cái mũ của Quốc dân đảng - mới ngày nào còn hô “đả đảo Tưởng Giới Thạch”, “Tưởng Giới Thạch phải chết!” thì hôm nay bỗng dưng “ủng hộ Tưởng ủy viên trưởng” thậm chí “phục tùng Tưởng ủy viên trưởng”.
Ngày 15 tháng 4 năm 1937, Trung ương Trung Cộng phát “Cáo toàn Đảng đồng chí thư” dài tới cả vạn chữ, giải thích chủ trương “liên Tưởng kháng Nhật” và “Quốc - Cộng hợp tác” lần thứ hai, khẳng định Trung Cộng không đầu hàng, nước cờ của hai bên là như vậy, họa phát xít “tam quang” (phá sạch, đốt sạch, giết sạch) đang áp tới, không còn con đường chọn lựa nào khác.
Vụ súng ở Lư Câu Kiều - kháng chiến tám năm
Mười giờ đêm ngày 7 tháng 7 năm 1937, quân Nhật gây hấn vụ Lư Câu Kiều - tức cầu Marco Polo nằm ở tây nam Bắc Bình - tiến công đại quy mô vào lãnh thổ Trung Quốc. Lúc này Tưởng Giới Thạch và Chu Ân Lai đang đàm phán về công việc hợp tác giữa hai đảng ở Lư Sơn. Nhận được điện khẩn của Tần Đức Thuần - thị trưởng Bắc Bình, Tưởng Giới Thạch hạ lệnh cho Tổng Triết Nguyên - quân đoàn trưởng quân đoàn 29 Quốc dân đảng:
“Cố thù không lùi, động viên toàn lực, chuẩn bị phản công!”
Thái độ của Tưởng khác hẳn 6 năm về trước khi xảy ra sự kiện “18 tháng 9” mà ông đã chỉ thị Trương Học Lương: “quân ta không được chống cự”. Người đời sau nhận xét: quân Nhật càng lấn tới thì Tưởng Giới Thạch càng ngã về phía Trung Cộng. Đứng trước họa xâm lăng, cuộc hợp tác lần thứ hai của Quốc - Cộng càng nhanh đi đến hiện thực.
Tại Diên An, Mao Trạch Đông kịp thời ra thông điệp kêu gọi toàn dân đứng lên kháng chiến, cảnh báo: “Bình Tân nguy cấp! Hoa Bắc nguy cấp! Dân tộc Trung Hoa nguy cấp!” Sáng ngày 1 tháng 8 năm 1937, Mao nhận lời mời của Tưởng qua Trương Xung chuyển tới, quyết định cử Chu Ân Lai, Chu Đức và Diệp Kiếm Anh đến Nam Kinh dự hội nghị quốc phòng. Cũng ngày hôm đó, Phương diện quân số 1, 2, 3, 4 và Hồng quân Thiểm Bắc của Trung Cộng cải tổ thành Lộ quân thứ 8 Cách mạng Quốc dân - gọi tắt là “Bát lộ quân” do Chu Đức làm Tổng Tư lệnh, Bành Đức Hoài làm phó và Diệp Kiếm Anh tham mưu trưởng.
Tháng 10 năm 1937, quân du kích của Trung Cộng ở 8 tỉnh Giang Tây, Phúc Kiến, Quảng Đông, Hồ Nam, Hồ Bắc, Hà Nam, Triết Giang, An Huy theo lệnh Mao tập hợp thành Quân thứ tư Cách mạng Quốc dân - gọi tắt là “Tân tứ quân” do Diệp Đình làm quân trưởng.
Mao Trạch Đông đi đến Quốc - Cộng hợp tác lần thứ hai bằng những quân cờ: Bát lộ quân, Tân tứ quân và Khu đỏ do Lâm Bá Cừ làm thủ trưởng hành chính tối cao - vậy là ông đã hạ mũ “triệt để”, tất cả đều vì mục đích mặt trận dân tộc thống nhất kháng Nhật, còn mình trước sau vẫn là lãnh tụ của Trung Cộng, mặc cho Tưởng Giới Thạch muốn chức hàm gì cũng được.
Tiếp đến là những ngày “kề vai sát cánh, chung một chiến hào”: quân Tưởng lo chính quy trực diện, quân Mao lo du kích địch hậu. Tám năm kháng Nhật (1937-1945) bắt đầu như thế - và khi tiếng súng kháng chiến nổ ra, cuộc cờ giữa Mao và Tưởng vẫn chưa ngưng lại, chỉ là tạm gác để cùng nhau kháng Nhật.