16 phút để đọc

alt

Mao Trạch Đông cùng các đại biểu dự Toạ đàm văn nghệ Diên An, tháng 5 năm 1942 – ảnh của Ngô Ấn Hàm

Tiếng súng Lư Câu Kiều đã đẩy Quốc dân đảng và Trung Cộng vào chung một chiến hào. Nhưng “chung chiến hào” không có nghĩa là chung một ván cờ. Suốt tám năm kháng Nhật, dưới lớp khói súng chống ngoại xâm, hai kỳ thủ vẫn lặng lẽ đi những nước cờ của riêng mình – và có lúc, mây mù vần vũ đến mức tưởng chừng cuộc hợp tác đổ vỡ ngay giữa cơn quốc nạn.

“Sơn tước mãn thiên phi” – đàn chim sẻ bay khắp bốn phương

Trong khi Tưởng Giới Thạch còn bận sắp xếp lại phòng tuyến chính quy, thì từ ngày 22 đến ngày 25 tháng 8 năm 1937, Mao Trạch Đông chủ trì hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Trung Cộng tại Lạc Xuyên. Hội nghị thông qua một chủ trương mang cái tên rất hình ảnh: “sơn tước mãn thiên phi” – nhân kháng chiến chống Nhật, nhân Quốc - Cộng hợp tác mà tung lực lượng đảng viên cộng sản về mọi miền đất nước, hệt như đàn chim sẻ từ núi cao bay khắp bốn phương trời.

Mao dặn dò cấp dưới bằng một câu gọn lỏn mà ai nghe cũng hiểu:

Ta đổi mũ rất nhanh, nhưng ta vẫn là Cộng sản, và phải nhớ “Đảng chỉ huy họng súng”.

Chiếc mũ Quốc dân đảng đội lên đầu Bát lộ quân, Tân tứ quân chỉ là chiếc mũ. Bên dưới nó, guồng máy tổ chức vẫn chạy theo nhịp Diên An. Năm 1937 khép lại với một sự kiện nhỏ trong đời tư nhưng về sau sẽ trở thành chuyện lớn của cả nước: Lam Bình – tức Giang Thanh – hướng về “đất thánh” Diên An, để rồi trở thành đệ nhất phu nhân, nắm quyền bính một thời.

Sự kiện Hoản Nam – vết dao giữa lúc chung chiến hào

Quốc - Cộng hợp tác chưa được bao lâu thì tai hoạ ập tới. Lấy cớ quân du kích An Huy (gọi tắt là Hoản) chống lệnh, chính phủ trung ương của Tưởng Giới Thạch cho quân tàn sát Tân tứ quân, bắt giam quân trưởng Diệp Đình, rồi tuyên bố giải thể luôn cánh quân này của Trung Cộng. Đó là tháng 1 năm 1941.

Báo chí trong nước đưa tin Hoản Nam gần như một chiều theo phía chính phủ, chân tướng sự việc mờ mịt. Tờ “Tân Hoa nhật báo” của Trung Cộng xuất bản tại Trùng Khánh bị kiểm duyệt nên cũng chẳng khá gì hơn – chỉ đăng được bài thơ “Ai điếu người anh em Giang Nam vì nước lâm nạn” của Chu Ân Lai. Ở Diên An, Mao Trạch Đông đọc xong bình một câu ngậm ngùi: vần điệu thì đau xót, mà thi từ thì mung lung.

Nhưng bưng bít được báo chí trong nước không có nghĩa bưng bít được thế giới. Từ New York, London truyền đi những dòng tin chân thực kèm lời bình “bất hạnh”, “lo lắng”. Đại sứ Mỹ, đại sứ Anh lần lượt gặp Tưởng để biểu thị lập trường: chúng tôi không mong muốn nội chiến ở Trung Quốc, vấn đề Tân tứ quân không nên dẫn đến sự tàn sát lẫn nhau – tất cả chỉ làm suy yếu lực lượng kháng chiến, tất cả chỉ có lợi cho Nhật Bản. Đại sứ Liên Xô đương nhiên gay gắt hơn:

Dù giải thích như thế nào, chúng tôi cũng không thể đồng ý với quý quốc về sự biến Hoản Nam! Đối với Trung Quốc, nội chiến có nghĩa là diệt vong.

Mỹ, Anh, Nga đều tỏ thái độ phản đối, khiến Tưởng Giới Thạch từ niềm vui “tam hỉ lâm môn” chuyển sang điệu buồn “tam bất hoan nghênh”. Kẻ hý hửng duy nhất là Nhật Bản – thừa cơ tấn công, không chỉ nhằm vào Tân tứ quân mà cả quân trung ương của Tưởng. Còn Uông Tinh Vệ – phái thân Nhật, sau này trở thành Hán gian – buông một câu “danh ngôn” mà nghe qua đã thấy mỉa mai đến tận cùng:

Mấy năm lại đây Tưởng Giới Thạch chưa làm được điều gì hay ho, nhưng lần này qua Hoản Nam, ông ta là con người tốt!

Ngay trong lòng Quốc dân đảng, cánh tả mà đứng đầu là Tôn phu nhân Tống Khánh Linh cũng lên án, phê phán Tưởng một cách quyết liệt. Về phía mình, trong các “mệnh lệnh” và “văn bản” công khai, Mao Trạch Đông tuyên bố Trung Cộng sẽ không bị lừa và nhẫn nhục như năm 1927 nữa – chúng ta đã là một đại chính đảng độc lập, Tưởng đẩy chúng ta đến bước đường cùng đối đầu này thì còn lời nào để mà nói nữa!

Quan hệ Quốc - Cộng đi đến điểm đóng băng. Nhưng chính cái lạnh ấy lại làm nguội cái đầu của cả hai kỳ thủ. Họ còn chung một kẻ thù, vô lẽ “trai cò đánh nhau” để cho “ngư ông được lợi” hay sao? Mao chỉ phản kích trên dư luận nhằm tạo thanh thế, ông xác định rõ: giành thế công về chính trị, tạm thời vẫn giữ thế thủ trong quân sự. Còn Tưởng thì lần mò tìm bậc để xuống thang, cố giới hạn vấn đề trong phạm vi Tân tứ quân, không cho lan sang Bát lộ quân và Trung Cộng.

Bài học đau đớn nhất đến rất nhanh: ngay sau khi mệnh lệnh “17 tháng giêng” giải tán Tân tứ quân vừa truyền xuống, thì 15 vạn quân của Tưởng ở phía đông đường sắt Bình - Hán lập tức bị quân Nhật bao vây. Cũng năm ấy, Trung Cộng và Mao Trạch Đông cự tuyệt dự hội nghị tham chính thường niên.

Tưởng Giới Thạch bước lên vũ đài quốc tế

Nước cờ “kéo nhau” của hai kỳ thủ đành gác lại, bởi một biến cố lớn hơn nhiều đã ập xuống thế giới. Rạng sáng 22 tháng 6 năm 1941, khi mọi người còn say ngủ, quân Đức với 190 sư đoàn, 3700 xe tăng, 4900 máy bay tiêm kích và 190 chiến hạm tấn công Liên Xô. Nửa giờ sau, đại sứ Đức ở Mạc Tư Khoa mới trao tuyên chiến thư. Thế chiến thứ hai bùng nổ.

Tưởng Giới Thạch lập tức xoay cờ sang một cục diện khác: tuyên chiến với Nhật, tuyên chiến với Đức. Kể cũng buồn cười – từ sau vụ Lư Câu Kiều ngày 7 tháng 7 năm 1937, đúng bốn năm ròng quân Nhật thôn tính, “tam quang” không biết bao nhiêu quốc thổ Trung Quốc mà Tưởng ủy viên trưởng vẫn im hơi lặng tiếng, mãi tới giờ này mới cất giọng “gáy”. Không, nhà quân sự mang dòng máu thương gia ấy khôn lắm, có đầu óc lắm: một lúc tuyên chiến cả Nhật lẫn Đức là để đặt Trung Quốc vào đúng chỗ đứng mà ông đã nhắm.

Tưởng đề nghị bốn nước Trung, Mỹ, Anh, Nga lập ở châu Á một đồng minh quân sự. Roosevelt tán thành, Churchill ủng hộ, riêng Stalin chẳng nói chẳng rằng – ông đang lo trận tuyến phía Tây, và bản “Điều ước trung lập” Liên Xô vừa ký với Nhật Bản hồi tháng 4 năm 1941 hãy còn chưa ráo mực. Là người đề xướng, Tưởng phải xung phong thực hiện. Ngày 23 tháng 12 năm 1941, Hội nghị quân sự liên hợp Đông Á được cử hành tại Trùng Khánh với đại biểu Trung, Mỹ, Anh, do chính ông chủ trì. Đó là lần đầu tiên Trung Quốc xuất hiện trên vũ đài quốc tế trong vai trò một nước lớn.

Đầu năm 1942, đại biểu 26 nước tụ họp tại Washington ký bản “Tuyên ngôn Liên hợp quốc gia” chống ba nước trục phát xít Đức - Ý - Nhật, sau đó thêm 19 nước nữa tham gia. Trong bản tuyên bố, bốn nước Mỹ, Anh, Nga, Trung được ghi tên đầu tiên. Chính phủ Tưởng Giới Thạch nghiễm nhiên nằm trong “bốn thượng đỉnh”, uy tín quốc tế của ông như diều gặp gió. Nhưng có một người xem ông chẳng ra gì – người đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong Thế chiến thứ hai: Stalin.

Chỉnh phong ở Diên An – Mao lột xác Trung Cộng

Cùng thời gian ấy, Mao Trạch Đông đi một nước cờ hoàn toàn khác. Ông điện báo cho Chu Ân Lai bằng tám chữ:

Phương châm của chúng ta là tự củng cố và trầm tĩnh theo dõi.

Quan hệ Quốc - Cộng lúc này không xấu không tốt, không nóng không lạnh, tương đối ổn định. Tưởng lo vươn lên thành lãnh tụ thế giới, còn Mao cố thủ Diên An phát động cuộc chỉnh phong lịch sử. Năm 1941 ông viết “Cải tạo sự học tập của chúng ta”; năm 1942 tiếp nối bằng “Chỉnh đốn tác phong của đảng”, “Chống giáo điều trong đảng” và “Phát biểu tại cuộc toạ đàm văn nghệ Diên An”. Xuyên suốt loạt văn bản ấy là một yêu cầu: phải chỉnh đốn đảng phong, học phong và văn phong – cái mà ông gọi là “tam phong”.

Từ ngày thành lập Hồng quân năm 1927 cho đến hội nghị Tuân Nghĩa năm 1935, Trung Cộng đã bao phen dao động giữa tả và hữu, cuối cùng vai trò lãnh tụ của Mao mới được xác lập. Nhưng rồi bận rộn nam chinh bắc chiến, có lúc nào ngơi nghỉ mà ngồi lại được đâu. Nay nhân lúc quan hệ Quốc - Cộng tạm lắng, Mao chủ trương tự củng cố đảng mình bằng bốn cuộc chỉnh đốn: tư tưởng, tổ chức, quân đội và văn nghệ. Có thể nói Trung Cộng đã lột xác, thay da đổi thịt sau lần ấy – còn Mao, qua đó ông hệ thống hoá lý luận của mình và hình thành cái gọi là “tư tưởng Mao Trạch Đông”.

Lâm Bưu thay Mao đi thuyết khách

Đang lúc bằng yên phẳng lặng như vậy thì Tưởng Giới Thạch mời Mao Trạch Đông hội ngộ tại Tây An. Ba cuộc gặp gỡ Tưởng - Mao dự kiến ở Nam Kinh, Vũ Hán và Tây An trước đó đều không thành; lần này, ngày 14 tháng 8 năm 1942, Tưởng nhờ Chu Ân Lai điện khẩn về Diên An.

Chu báo cáo: thái độ của Tưởng không có gì tỏ ra ác ý, nhưng mục đích cuộc gặp thì thật khó lường. Từ Trùng Khánh, ông đề xuất với Mao hai phương án – một là cáo bệnh, cử Lâm Bưu đi thay; hai là Tưởng, Chu cùng về Tây An, sau đó Chu và Lâm Bưu hoặc Chu Đức đại diện Mao gặp Tưởng. Mao sử dụng tổng hợp cả hai, và ông chọn Lâm Bưu.

Ngày 14 tháng 9 năm 1942, thay mặt Mao Trạch Đông, Lâm Bưu rời Diên An đi ô tô đến Tây An, cùng đoàn có Ngũ Vân Phổ và Chu Lệ Vũ. Nhưng Tưởng đã trở về Trùng Khánh. Lâm xin chỉ thị Mao rồi tiếp tục rong ruổi trên dặm đường thuyết khách – cuộc gặp, mà thực chất là đàm phán, cuối cùng diễn ra ở Trùng Khánh.

Lâm Bưu là một võ tướng, tính cách hướng nội, ăn nói khiêm nhường, không quen ngoại giao; lúc ấy Lâm chỉ mới là sư trưởng, sao địch nổi với thống soái họ Tưởng? Vậy nguyên cớ gì mà Mao lại chọn Lâm? Có hai lẽ. Thứ nhất, Lâm Bưu là học sinh khoá 4 Trường quân sự Hoàng Phố, có thể lấy tình thầy trò mà đàm đạo với hiệu trưởng Tưởng – Mao vốn là người dụng nhân như dụng mộc một cách rất thiện nghệ. Thứ hai, sau trận Bình Hình Quan, Lâm đã nổi tiếng là “danh tướng kháng Nhật” mà đến cả các khu do Quốc dân đảng kiểm soát người ta cũng phải kính nể.

Câu chuyện Lâm Bưu vắng mặt ba năm cũng là một tình tiết oái oăm của thời loạn. Ngày 1 tháng 3 năm 1938 tại tỉnh Sơn Tây, Lâm dẫn binh sĩ đi trinh sát địch tình. Để tiếp cận thật gần quân Nhật, ông và những người cùng đi mặc quân phục Nhật Bản, lưng đeo kiếm dài – toàn bộ quần áo, vũ khí ấy đều là chiến lợi phẩm lấy được ở Bình Hình Quan. Vì hoá trang quá giống, Lâm Bưu trúng đạn của chính quân Quốc dân đảng do Diêm Tích Sơn cầm đầu. Giao tranh một hồi mới biết là nhầm, nhưng vai phải, vai trái, phổi và cột sống của Lâm đều bị thương, máu chảy đầm đìa. Đưa về Diên An chữa mãi không lành, phải gửi sang Liên Xô, đến tháng 1 năm 1942 mới hồi hương và lập tức nhận nhiệm vụ.

Tưởng Giới Thạch chọn tư gia của Trương Trị Trung làm nơi đàm phán và phó thác mọi việc cho ông này – Trương vốn cũng là thầy của Lâm ở Hoàng Phố, lại quen biết Chu trong hội đồng giáo viên. Gặp lại Tưởng, Lâm Bưu một điều hiệu trưởng, hai điều hiệu trưởng, chuyển lời hỏi thăm của Mao và cáo lỗi rằng vì lâm bệnh nên lần này phải từ chối hội ngộ. Tưởng cám ơn, tỏ ra quan tâm đến “bệnh tình” của Mao, cũng không quên nhờ Lâm “chuyển lời vấn an” về Diên An.

Hàn huyên khách sáo đôi lời, Lâm Bưu đi thẳng vào chủ đề: Trung Cộng ủng hộ Tưởng như lãnh tụ của dân tộc, song đề nghị Tưởng thực hiện “ba đình”, “ba thả” và “hai biên”:

Đình chỉ tiến công quân sự, đình chỉ tiến công chính trị, đình chỉ o ép tờ Tân Hoa nhật báo;

Thả những người bị bắt trong vụ Tân tứ quân;

Cung cấp súng ống, đạn dược, lương thảo và biên chế quân đội của Trung Cộng thành hai tập đoàn quân.

Tất nhiên Tưởng Giới Thạch không chấp nhận. Nhưng nhiệm vụ của Chu và Lâm vốn là cứ giằng co như vậy – và họ giằng co hơn tám tháng trời. Ngày 28 tháng 6 năm 1943, Chu Ân Lai, Lâm Bưu và Đặng Dĩnh Siêu cùng hơn trăm binh lính rời Trùng Khánh trở lại Hồng đô Diên An. Ba mùa xuân rồi, Chu mới có dịp “về nhà”.

“Không có Đảng Cộng sản thì không có Trung Quốc mới

Chuyến về Diên An của Chu Ân Lai còn mang một nhiệm vụ quan trọng khác: bàn thảo kế sách sau khi Quốc tế Cộng sản tuyên bố giải tán. Người phấn khởi nhất khi “quả bom nguyên tử tân văn” này bùng nổ có lẽ chính là Tưởng Giới Thạch – ông nghĩ Trung Cộng mất chỗ dựa thì ắt diệt vong, liền cho xuất bản cuốn “Vận mệnh của Trung Quốc” xoáy quanh luận điểm “không có Quốc dân đảng thì không có Trung Quốc”. Sách ấn hành hàng triệu bản, phát tận hang cùng ngõ hẻm, xem như kinh thánh tuyên truyền cho cái gọi là “Chủ nghĩa Tưởng Giới Thạch”, lại có nhạc sĩ phổ nhạc luôn câu “danh ngôn” của Tưởng lãnh tụ.

Để chọi lại Trùng Khánh, ở Diên An cũng có bài ca “không có Đảng Cộng sản thì không có Trung Quốc”, nhân dân và binh lính hát khắp khu đỏ. Đến như Lý Nạp – con gái của Mao và Giang Thanh – ngày ngày cũng liến thoắng “không có… thì không có…”. Nghe mãi, Mao Trạch Đông chợt chột dạ: sai rồi, sai rồi, Trung Quốc có trước và Đảng Cộng sản có sau! Ông thông minh thêm vào một chữ:

Không có Đảng Cộng sản thì không có Trung Quốc mới.

Nghe rất logic, không chê vào đâu được. Bài ca ấy còn lưu mãi đến ngày nay, nhưng chắc không phải ai cũng hiểu rõ nguồn gốc của nó.

Ngược hẳn với suy nghĩ của Tưởng, Mao không hề lo lắng trước sự giải thể của Quốc tế Cộng sản – trái lại, ông như được trút bỏ mọi “chì chiết” của một “bà mẹ chồng”. Ngày 20 tháng 3 năm 1943, Mao Trạch Đông chính thức được bầu làm Chủ tịch Bộ Chính trị Trung ương Trung Cộng, và giữ cương vị ấy cho tới ngày 9 tháng 9 năm 1976, lúc nhắm mắt xuôi tay.

“Thất Đại” và “Lục Toàn” – hai đại hội, hai vận mệnh

alt

Mao Trạch Đông đọc diễn văn bế mạc “Ngu Công dời núi” tại Đại hội đại biểu toàn quốc Trung Cộng lần thứ bảy, năm 1945

Một bên chủ nghĩa Tưởng, một bên tư tưởng Mao, giằng co tiến thoái trên bàn cờ quốc thổ Trung Hoa. Tám năm kháng Nhật (1937 – 1945) rồi những năm nội chiến tiếp sau (1945 – 1949), nhân dân Trung Quốc phải chọn lựa một trong hai vận mệnh cho mình: hoặc Quốc dân đảng, hoặc Đảng Cộng sản.

Khi Thế chiến thứ hai chuyển sang giai đoạn phản công của quân đội Xô-viết, sự thất bại của phát xít đã rõ ràng, vấn đề chỉ còn là thời gian. Làm một chính trị gia, điều quan trọng nhất là lượng trước nước cờ sẽ phải đi trong tương lai – về khả năng này, Tưởng và Mao không hẹn mà gặp.

Mao Trạch Đông triệu tập “Thất Đại” – Đại hội đại biểu toàn quốc Trung Cộng lần thứ bảy – họp ròng rã 50 ngày, từ 23 tháng 4 đến 11 tháng 6 năm 1945, với quy mô chưa từng có: 547 đại biểu chính thức, 208 đại biểu dự khuyết. Trên Hồng đô Diên An giữa cao nguyên hoàng thổ, đại hội đề ra sự chọn lựa giữa “hai loại vận mệnh của Trung Quốc” và vấn đề “chính phủ liên hợp”.

Ở Trùng Khánh, Tưởng Giới Thạch chủ trì “Lục Toàn” – Đại hội đại biểu toàn quốc Quốc dân đảng lần thứ sáu – họp chỉ hơn nửa tháng, từ ngày 5 đến 21 tháng 5 năm 1945, với 579 đại biểu chính thức và 161 dự khuyết, bàn thảo cách “tiêu diệt Trung Cộng sau khi Nhật thua”.

Bên này gọi là “Đại”, bên kia xưng “Toàn”, nhưng thực chất đều là cuộc họp lớn của một chính đảng để định chiến lược cho giai đoạn tới. Tra cứu lại tư liệu lịch sử, người ta thấy ngay trong đêm trước ngày Thế chiến thứ hai kết thúc, hai ông Tưởng - Mao cùng đi một nước cờ: tiêu diệt nhau.

Cho nên về sau, dẫu đàm phán Trùng Khánh có xảy ra, dẫu Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch có bắt tay nhau, có nâng chén chúc rượu đi nữa – tất cả cũng chỉ là chiến dịch, chiến thuật mà thôi. Còn đường lối, chiến lược thì hai ông đã bất biến từ lâu, tại Thất Đại và Lục Toàn rồi.

Phải nhiều năm sau nữa tiếng súng mới tạm yên trên lãnh thổ Trung Hoa, rồi lấy eo biển Đài Loan làm vạch ranh giới – người trong lục địa, kẻ ở đảo xa. Ván cờ thế kỷ giữa hai kỳ thủ đến đây tạm khép lại, dù nó chưa bao giờ thực sự ngưng nghỉ.

Chúng ta cũng tạm dừng ở thế cờ này, để chuyển sang một nhân vật khác trên chính trường Trung Quốc – con người thấp nhỏ, vai bành, ba lần vào ra Trung Nam Hải: Đặng Tiểu Bình.

Ngày cập nhật: