开放 - Khai Phóng

Cửa đóng then cài
Cửa đóng then cài là thành ngữ tiếng Việt, chỉ sự khép kín, trong ngoài cách biệt, không cho ai ra vào.
Cụ thể, cửa là hai cánh khép lại, mới chỉ là lớp ngoài; then là thanh gỗ gài ngang phía trong, mới là thứ giữ cho cửa không mở được. Vì vậy, muốn vào một căn nhà cửa đóng then cài thì đẩy cánh cửa là vô ích, phải rút cái then ra trước đã.
Việc ngược lại với cửa đóng then cài, chữ Hán gọi là 開放 (giản thể 开放), âm Hán Việt đọc là khai phóng, nghĩa là mở ra và thả ra, gỡ bỏ sự ngăn cách để trong ngoài thông nhau.
Theo mặt chữ, Khai 開 (kāi) có nghĩa là mở. Chữ gồm bộ môn 門, tức hai cánh cửa; nằm ngang bên trong là thanh then; bên dưới là 廾, hình hai bàn tay. Hợp lại thành động tác hai tay nhấc thanh then lên. Như vậy, mở cửa trong chữ Hán không phải là đẩy cánh cửa, mà là nhấc cái then cài.
Phóng 放 (fàng) nghĩa gốc là đuổi đi. Thuyết Văn Giải Tự chép: “放,逐也”, tức là: phóng là đuổi. Chữ gồm 方 chỉ âm và 攵, hình bàn tay cầm gậy. Khuất Nguyên bị vua Sở đày đi, sử gọi là 放逐 – phóng trục, chính là dùng chữ này.
Ghép hai chữ lại, khai phóng là gỡ then cài rồi thả ra ngoài. Một nghĩa quen thuộc của từ này là hoa nở. Nụ hoa vốn là một cánh cửa đóng, các cánh xếp chồng lên nhau, khép chặt, giữ nhụy ở trong; đến khi cánh hoa bung ra thì hương và phấn tỏa ra bên ngoài, đủ cả khai lẫn phóng. Đến nay người Trung Quốc vẫn gọi hoa nở là 花朵开放.
Tư tưởng Khai Phóng
Nghĩa ban đầu của khai phóng là mở cửa thành, mở kho thóc, thả người bị giam ra khỏi ngục. Về sau, khai phóng được dùng để chỉ người không giữ lối nghĩ khép kín, chịu đón nhận cái mới, tức là cởi mở, phóng khoáng.
Năm 1978, Đặng Tiểu Bình đặt chữ này vào đường lối 改革开放, ta quen gọi là cải cách mở cửa, đọc theo âm Hán Việt thì chính là cải cách khai phóng. Ngoài ra, trong tiếng Việt ngày nay, hai chữ ấy còn được mượn để dịch “liberal education” – nền giáo dục khai phóng, tức là nền giáo dục chú trọng mở rộng tư duy và cởi trói cho người học, không đóng khuôn họ vào một nghề nghiệp cụ thể.
Tuy qua nhiều tầng nghĩa nhưng cái lõi của từ không đổi: có một ranh giới, có một cái then, và có động tác gỡ then để hai phía thông nhau, cái bên trong bung ra, cái bên ngoài đi vào. Hoa nở, một nước mở cửa, một người mở lòng, ba việc khác nhau về quy mô nhưng giống nhau về lẽ.
Bước ngoặt của hai dân tộc
Trong lịch sử Đông Á, khai phóng còn gắn với hai bước ngoặt lớn của hai dân tộc là Nhật Bản và Trung Hoa.
Nhật Bản cuối thời Edo
Mạc phủ Tokugawa theo chính sách tỏa quốc – 鎖国 – hơn hai trăm năm. Cửa nước khóa kín, chỉ chừa một khe hẹp ở Nagasaki cho thuyền buôn Hà Lan và Trung Hoa; người Nhật không được ra, người ngoài không được vào.
Năm 1853, bốn chiếc tàu chiến của Matthew Perry thả neo ở vịnh Uraga. Người Nhật gọi chúng là 黒船 – hắc thuyền, tức là những con tàu đen. Mạc phủ không đủ sức chống cự, năm sau đành ký hòa ước mở hai cảng Shimoda và Hakodate, rồi các hòa ước bất bình đẳng khác nối tiếp nhau. Như vậy, cái then không được gỡ ra mà bị phá từ bên ngoài bằng vũ lực.
Cơn phẫn nộ ban đầu nổ ra thành khẩu hiệu 尊王攘夷 – tôn vương nhương di, tức là phò vua đuổi giặc. Tuy vậy, chính những người hô hào khẩu hiệu ấy sớm nhận ra rằng với sức lực lúc bấy giờ thì không thể đuổi nổi, nên quyết định đổi hướng: đã không đuổi được thì học. Đến Minh Trị Duy tân năm 1868, nước Nhật từ chỗ bị phá cửa chuyển sang tự tay mở cửa.
Năm 1871, sứ đoàn Iwakura hơn trăm người rời nước, đi gần hai năm qua Hoa Kỳ và châu Âu. Việc đàm phán sửa hiệp ước không thành, nhưng họ đem về những ghi chép tỉ mỉ về cách thức phương Tây tổ chức nhà máy, trường học, quân đội, ngân hàng. Cả thời đại ấy gói trong bốn chữ 文明開化 – văn minh khai hóa, vẫn là chữ khai 開 nói trên. Nguyên tắc chọn lọc thì được rút thành 和魂洋才 – hòa hồn dương tài, tức là giữ hồn Nhật, lấy tài phương Tây.
Trung Quốc thời Đặng Tiểu Bình
Nhà Thanh cùng thời cũng theo chính sách bế quan tỏa quốc – 闭关锁国 – cho tới khi tàu chiến Anh nổ súng năm 1840. Cửa bị phá, nhưng chặng đường từ lúc bị phá tới lúc tự gỡ then của người Trung Hoa dài hơn người Nhật rất nhiều: một trăm năm loạn lạc, triều Thanh sụp đổ, rồi nước Trung Hoa mới ra đời cũng tự khép mình thêm gần ba mươi năm nữa.
Mùa thu năm 1978, Đặng Tiểu Bình sang thăm Nhật. Ông đi tàu Shinkansen và nói rằng ngồi trên đó có cảm giác như bị thúc sau lưng, giục mình phải chạy. Tháng 12 năm ấy, Hội nghị Trung ương 3 khóa 11 chốt đường lối cải cách khai phóng – 改革开放. Hai năm sau, Thâm Quyến từ một làng chài trở thành đặc khu kinh tế, để rồi nay là thủ phủ công nghệ của Trung Quốc.
Với cải cách khai phóng, lần này cái then được tháo từ bên trong, và cũng như người Nhật, việc học được đặt lên hàng đầu. Ngay từ giữa năm 1978, Đặng đã gạt bỏ lối gửi người đi học nhỏ giọt:
我赞成留学生的数量增大,要成千成万地派,不是只派十个八个。
Wǒ zànchéng liúxuéshēng de shùliàng zēngdà, yào chéngqiān chéngwàn de pài, bú shì zhǐ pài shí gè bā gè.
Tôi tán thành tăng số lưu học sinh lên, phải phái đi hàng ngàn hàng vạn, chứ không phải chỉ phái dăm ba người.
Cuối năm đó, đoàn học giả đầu tiên lên đường sang Mỹ. Bốn mươi năm sau, chính những người ấy cùng học trò của họ trở thành bộ khung của các đại học, viện nghiên cứu và công ty công nghệ Trung Quốc.
Cái then của người học
Then nằm ở bên trong
Xem lại chữ 開 thì thấy một chi tiết dễ bỏ qua: hai bàn tay 廾 nằm phía trong cửa. Người ở ngoài dù muốn đến mấy cũng chỉ gõ được, cùng lắm là phá. Người gỡ được then cài chỉ có thể là người ở trong nhà.
Với người học, cái then ấy chính là cái mình đã biết. Càng biết nhiều, then càng dày. Điều này Trang Tử đã nói từ hơn hai ngàn năm trước, trong thiên Thu Thủy:
秋水 – 庄子
井蛙不可以语于海者,拘于虚也;
Tỉnh oa bất khả dĩ ngữ ư hải giả, câu ư hư dã;
夏虫不可以语于冰者,笃于时也;
Hạ trùng bất khả dĩ ngữ ư băng giả, đốc ư thời dã;
曲士不可以语于道者,束于教也。
Khúc sĩ bất khả dĩ ngữ ư đạo giả, thúc ư giáo dã.
Thu Thủy – Trang Tử
Ếch trong giếng không thể bàn chuyện biển,
Vì bị chính cái giếng của nó giam lại;
Côn trùng mùa hè không thể bàn chuyện băng giá,
Vì bị mùa của nó bó lại;
Kẻ sĩ hẹp hòi không thể bàn chuyện đạo,
Vì bị chính cái mình được dạy trói lại.
Thúc ư giáo dã, tức là bị trói bởi cái mình được dạy. Kẻ bị trói ấy không thấy mình đang bị trói, vì sợi dây làm bằng chính thứ đã giúp người đó đi được tới đây. Con ếch dưới giếng cũng vậy, nó không thấy mình ở trong giếng; mảnh trời tròn trên đầu, với nó, là cả bầu trời, nên mới yên tâm mà ồm ộp chê cả thiên hạ.
Mở là để bung ra
Người ta quen hiểu việc học là nhận thêm vào: đọc thêm sách, xem thêm khóa học, lưu thêm tài liệu. Đó mới là khai 开, tức là mở cửa cho cái bên ngoài đi vào.
Còn một chiều nữa là phóng 放: viết lại điều vừa đọc bằng lời của mình, giảng cho người khác nghe, làm ra một sản phẩm hữu dụng. Đến lúc bung ra mới biết cái gì đã thật sự thành của mình, cái gì vẫn còn vay mượn bên ngoài.
Vì vậy, nghĩa gốc “đuổi đi” của chữ 放 hóa ra lại đúng: kiến thức phải bị đẩy ra khỏi đầu, đi một vòng qua thế giới bên ngoài, rồi quay về mới thành cái của mình; và từ đó lại đi ra ngoài lần nữa để tạo ra giá trị.
Bức mặc mai ở đầu bài là của Vương Miện, người đời Nguyên. Ông chấm cánh hoa bằng mực nhạt, lấy mực đậm viền đài và chấm nhụy, không dùng chút màu nào, rồi đề lên khoảng trống bốn câu:
墨梅 – 王冕
吾家洗砚池头树,
Ngô gia tẩy nghiễn trì đầu thụ,
个个花开淡墨痕。
Cá cá hoa khai đạm mặc ngân.
不要人夸好颜色,
Bất yếu nhân khoa hảo nhan sắc,
只留清气满乾坤。
Chỉ lưu thanh khí mãn càn khôn.
Mặc mai – Vương Miện
Cây bên đầu ao rửa nghiên của nhà ta,
Hoa nở đóa nào cũng chỉ một vệt mực nhạt.
Chẳng cần ai khen cho là sắc đẹp,
Chỉ để khí thanh lưu lại giữa đất trời.
Cánh hoa mở ra không phải chỉ để người ta ngắm, mà là để khí thanh của nó tỏa ra giữa đất trời.
Mở thì phải chịu gió
Cánh hoa lúc còn khép thì được che kín, mở ra là phơi mình cho gió, cho mưa, và cho cả sâu bọ. Đặng Tiểu Bình từng nói thẳng điều ấy với những người còn ngại mở cửa:
打开窗户,新鲜空气进来了,苍蝇蚊子也会飞进来。
Dǎkāi chuānghù, xīnxiān kōngqì jìnlái le, cāngying wénzi yě huì fēi jìnlái.
Mở toang cửa sổ thì khí trời trong lành ùa vào, mà ruồi muỗi cũng bay vào theo.
邓小平 - Đặng Tiểu Bình
Mở cửa, dù là cửa một nước hay cửa một cái đầu, đều phải chấp nhận cái xấu có thể theo vào. Việc cần làm là dựng lấy một cách lọc, chứ không phải đóng cửa lại rồi mong mọi thứ sạch sẽ. Mạc phủ Tokugawa và nhà Thanh đều đã chọn cách đóng cửa ấy, một bên hơn hai trăm năm, một bên gần một thế kỷ. Bên trong thì yên, nhưng đến lúc cửa bị phá thì mới nhận ra mình đã lạc hậu đến mức nào.
Khai hoa kết quả - 开花结果
Khai hoa kết quả, tức là hoa nở rồi kết thành quả. Hoa nở chưa phải là đích, chỉ là điều kiện: có nở thì phấn mới tới được, có phấn thì mới đậu thành quả. Cánh hoa nở xong thì rụng, rụng đúng vào lúc quả bắt đầu lớn.
Việc học cũng theo đúng thứ tự ấy. Mở mang đầu óc không phải để được khen là người cởi mở, mà để có cái quả sau cùng, tức là làm được một việc mà trước đó chưa làm được.
Cái then vẫn nằm bên trong cánh cửa, và chỉ tay mình mới nhấc được. Nhận ra cái mình đã biết là chưa đủ, để mở cửa đón cái mới vào; rồi đem điều học được bung ra bên ngoài, chịu gió chịu sương, cho đến khi đậu thành quả. Đó chính là tinh thần khai phóng.