14 phút để đọc

alt

Năm 1937, Diệp Kiếm Anh (trái), Chu Ân Lai (phải), và đại diện của Quốc dân đảng Trương Trùng (giữa) đã đi đến núi Trung Nam ở ngoại ô phía nam của Tây An.

Giữa những hẻm núi cheo leo của vùng Thiểm Bắc, trấn nhỏ Bảo An (nay là huyện Chí Đan) bỗng chốc trở thành tâm điểm của dòng chảy lịch sử. Tên gọi Bảo An vốn mang nghĩa “bảo đảm an toàn” – một đồn lũy phòng ngự có từ thời nhà Đường. Từ ngày 3 tháng 7 năm 1936, nơi đây chính thức trở thành “Hồng đô”, thủ đô đỏ của nước Cộng hòa Xô-viết Trung Hoa.

Vào hạ tuần tháng 11 năm đó, một toán người phi ngựa tiến về phía Bảo An, bụi vàng cuốn mù mịt. Họ xuất phát từ Tây An, đi xe hơi đến Lạc Xuyên rồi thay ngựa phi thẳng về phía bắc. Cả đoàn khoác trên mình quân phục quân Đông Bắc của Trương Học Lương – dẫn đầu là một vị tướng oai phong đã ngoài tứ tuần, phía sau là nhóm tùy tùng trông thư sinh nhưng mang cốt cách nhà binh. Cách Bảo An chừng 20 dặm, đoàn người bỗng dừng lại: một bậc trưởng giả trong quân phục Hồng quân đã đứng chờ sẵn ven đường.

“Diệp lão, vất vả cả một dặm trường!” – vị mặc quân phục Hồng quân cất lời trước.

Vị tướng kia cười vang, giọng sảng khoái: “Lâm lão, ông ra tận đây chắc không phải để đón tôi, mà cốt là để nhận mấy đồng Quang Dương phải không?”

“Diệp lão” chính là Diệp Kiếm Anh; còn vị trưởng giả kia là Lâm Bá Cừ, Bộ trưởng Tài chính Hồng quân. Khi ấy ngân khố đang trống rỗng, hay tin Diệp mang về năm vạn đồng Quang Dương, Lâm mừng khôn xiết nên mới thân hành ra tận cổng thành nghênh tiếp. Năm vạn đồng tuy chỉ bằng một phần năm tiền thưởng treo giải cho cái đầu của Mao, nhưng với Hồng quân lúc bấy giờ, đó chẳng khác nào “hạn hán gặp mưa rào”.

Nhưng Diệp Kiếm Anh kiếm đâu ra số tiền đó?

“Mã phu” Diệp Kiếm Anh lọt vào Tây An

Sự tình bắt đầu từ hai tháng trước, vào hạ tuần tháng 9 năm 1936. Một đoàn kỵ mã rời Bảo An hướng về phía huyện Phú, rồi từ đồn lũy của quân Đông Bắc, họ đổi sang xe hơi thẳng tiến về cố đô Tây An.

Đoàn cải trang thành đại biểu Quốc dân đảng. Người dẫn đầu đeo phù hiệu “Hội đồng quân sự trung ương”, bên phải là phó quan súng ống chỉnh tề, bên trái là viên thư ký nho nhã đeo kính cận, đôi mắt sắc sảo giấu sau gọng kính. Trông bên ngoài như một phái đoàn từ Nam Kinh đến đàm phán; bên trong lại là những nhân vật then chốt của Hồng quân:

  • Biên Chương Ngũ: 36 tuổi, cựu tham mưu trưởng sư đoàn Quốc quân, nay là sư trưởng Hồng quân;
  • Bành Tuyết Phong: 29 tuổi, chính ủy sư đoàn;
  • Phan Hán Niên: trưởng ban tuyên truyền;
  • Đặc biệt, người lặng lẽ đóng vai “mã phu” đứng sau cùng lại chính là trưởng đoàn – tướng quân Diệp Kiếm Anh.

Đây là đội ngũ “tinh anh của tinh anh” do Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đích thân tuyển chọn cho sứ mạng đặc biệt tại Tây An.

Dưới sự hỗ trợ ngầm của Trương Học Lương qua mật lệnh cho một sư trưởng họ Lưu, đoàn xe tiến vào Tây An êm thấm. Diệp Kiếm Anh, mang danh xưng “Ngô tiên sinh”, đã chính thức lọt vào sào huyệt của đối phương.

“Sào huyệt” ấy đang do một nhân vật đặc biệt trấn giữ. Đó là “Thiếu soái” Trương Học Lương, khi ấy 35 tuổi, con trai của “Đông Bắc vương” Trương Tác Lâm – và cũng là người mang mối thù khắc cốt ghi xương với phát xít Nhật.

Mối thâm thù của Trương Học Lương đến vào rạng sáng ngày 4 tháng 6 năm 1928, cầu đường sắt Thẩm Dương đột ngột bị đánh sập, đoàn tàu đang chạy qua bị hất xuống sông. Thân phụ Trương lúc đó đang trên tàu; tuy được đưa đi cấp cứu nhưng vài giờ sau thì qua đời. Kẻ chủ mưu không ai khác chính là quân Nhật. Từ đó, Trương Học Lương thề không đội trời chung với chúng.

Chưa kịp nguôi ngoai, “sự biến 9.18” lại ập đến. Ngày 18 tháng 9 năm 1931, quân Nhật đánh chiếm Thẩm Dương; chỉ trong vòng bốn tháng mười tám ngày, cả ba tỉnh Đông Bắc – Liêu Ninh, Cát Lâm và Hắc Long Giang – lần lượt rơi vào tay giặc. Họ Trương mất cả quê hương lẫn binh quyền, lưu lạc nơi xứ người, rồi cuối cùng gia nhập Quốc dân đảng, đặt mình dưới trướng Tưởng Giới Thạch.

Khi Mao dẫn quân Trường chinh đến Thiểm Bắc, Tưởng Giới Thạch liền đưa ra một nước cờ khôn ngoan: điều quân Đông Bắc (Phụng quân) của Trương Học Lương về Tây Bắc tiễu phỉ. Đây là kế “ngư ông đắc lợi” – vừa mượn tay Trương để bào mòn Hồng quân, vừa mượn tay Hồng quân để hao mòn thực lực của một phe phái không cùng huyết mạch. Tháng 6 năm 1935, Trương Học Lương dẫn 13 vạn tinh binh kéo vào cửa ngõ Tây An.

Song Tưởng Giới Thạch đã tính nhầm. Mao Trạch Đông hiểu rõ nỗi lòng của vị Thiếu soái hơn ai hết. Tuy bên ngoài vẫn gọi Trương là “quân bán nước”, nhưng phía sau hậu trường, Mao liên tục cử mật sứ thuyết phục Trương bắt tay kháng Nhật. Sứ mạng của “Ngô tiên sinh” Diệp Kiếm Anh lần này chính là nhiệm vụ sống còn đó. Và người được Trương tin tưởng giao trọng trách “nghênh tiếp” mật sứ không ai khác ngoài Tôn Minh Cửu – tham mưu thân tín nhất của ông.

Đường dây nóng giữa Mao Trạch Đông và Trương Học Lương

alt

Trương Học Lương và tướng lĩnh dưới trướng vào năm 1931

Tôn Minh Cửu là tâm phúc của Trương Học Lương. Cách đây không lâu, vào những năm 2000, đã có người hỏi Trương, nếu được trở về đại lục thăm viếng, ông sẽ tìm gặp ai? Trương không do dự mà rằng: Tôn Minh Cửu! Tháng 8 năm 1991, hãng truyền hình Nhật Bản NHK phỏng vấn ghi hình Trương Học Lương ở Đài Bắc, sau đó họ đem trình chiếu cho Tôn Minh Cửu xem, Tôn nước mắt đầm đìa, nhớ về một quá khứ gắn bó giữa hai người.

Khi tiến quân vào Tây An, Trương Học Lương hạ trại tại ngõ Kim Gia, còn Tôn Minh Cửu trú ở ngôi nhà tứ hợp cách đó không xa, và hôm nay là nơi đón tiếp “Ngô tiên sinh”. Theo căn dặn của Học Lương, Minh Cửu bố trí lực lượng bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đại biểu Hồng quân họ Ngô.

Sau mấy ngày phục vụ, được biết “Ngô tiên sinh” chính là tướng quân Diệp Kiếm Anh, Minh Cửu càng cẩn trọng hơn. Và như vậy, một đường dây nóng Trương Học Lương - Diệp Kiếm Anh - Mao Trạch Đông được hình thành; chỉ riêng tháng 10 năm 1936 đã có 18 mật điện liên lạc giữa Tây An và Bảo An.

Ngày 29 tháng 10 năm 1936, Diệp Kiếm Anh điện khẩn:

Tưởng - Trương đã hội đàm, kết quả rất xấu, Tưởng tuyên bố phỉ không tiễu sạch thì quyết chưa kháng Nhật.

Diệp Kiếm Anh đề nghị sau ba ngày sẽ rời về Tây An báo cáo tỉ mỉ, đợi lệnh. Thượng tuần tháng 11, Diệp Kiếm Anh nhận điện từ đại bản doanh:

Trở về Bảo An thương lượng, nhân tiện nhờ Trương tướng quân tài trợ ít nhiều kinh phí.

Trương Học Lương lập tức đáp ứng năm vạn quan Quang Dương và hôm nay Diệp mang về cho Bộ trưởng Tài chính Hồng quân Lâm Bá Cừ.

Là một Phó tư lệnh của “Tây Bắc tiễu phỉ Tổng tư lệnh bộ”, tại sao Trương Học Lương lại khẳng khái chi viện cho “phỉ” như vậy? Chuyện dài ấy đã bắt đầu từ cuộc mật đàm thâu đêm ở giáo đường Thiên Chúa thành Diên An.

Trong giáo đường Thiên Chúa

Sáng ngày 9 tháng 4 năm 1936, một chiếc Boeing cất cánh từ sân bay Lạc Xuyên, người lái chuyến bay ấy chính là tướng quân Trương Học Lương. “Hành khách” gồm ba vị: Vương Dĩ Triết – chỉ huy quân đoàn 7 của Đông Bắc quân, Tôn Minh Cửu và một nhân vật thần bí khác. Chiếc máy bay lượn một vòng trên bầu trời Lạc Xuyên rồi lao về hướng bắc, cho đến lúc nhìn thấy dòng Diên Hà uốn lượn trên nền hoàng thổ và trông rõ đỉnh Bảo Tháp nơi ngọn núi bên sông, Trương Học Lương hạ độ cao và cho Boeing từ từ đậu xuống bãi rộng – đây chính là Diên An.

Phi hành đoàn gồm bốn người đi về doanh trại của quân Đông Bắc đồn trú tại thành Diên An nghỉ ngơi và chờ người của khu đỏ phái ra. Đó là Xuyên Khẩu phía đông Diên An, đợi cho trời tối họ mới vào thành. Ba ngày trước đó, Trương Học Lương và Vương Dĩ Triết nhận được điện báo của Mao Trạch Đông và Bành Đức Hoài:

Ngày 8, đại biểu của phía chúng tôi là Chu Ân Lai và Lý Khắc Nông sẽ đến Diên An cùng Trương tiên sinh bàn mưu cứu Quốc, định khởi hành từ Ngõa Dao Bảo vào ngày 7, hẹn nhau tại Xuyên Khẩu chờ người của tiên sinh đón vào thành, mọi sự an toàn dám cậy nhờ tiên sinh bố trí thỏa đáng….

Đoàn của Chu Ân Lai gồm năm người được bí mật đưa tới nhà thờ xứ Diên An, Trương Học Lương đã chờ sẵn ở đó. Đây là lần đầu tiên Chu - Trương gặp nhau mà như đã quen thân từ lâu, nói cười vui vẻ.

Năm mươi năm sau, khi trả lời phóng viên truyền hình NHK Nhật Bản, nhớ lại lần đầu quen biết Chu Ân Lai, Trương Học Lương đã dùng 12 chữ để bình phẩm họ Chu:

“Phản ứng sắc sảo, nói năng xuất chúng, học thức uyên thâm!”

Trương Học Lương giới thiệu với Chu Ân Lai nhân vật thần bí của mình, mà ông gọi là thư ký. Chu Ân Lai bật cười và bắt tay viên thư ký:

Chào Lưu tiên sinh.

Chào Chu tiên sinh! Chào Chu tiên sinh!

Trương Học Lương ngỡ ngàng vì Chu, Lưu đã biết nhau từ lâu. Đúng vậy, nhân vật “Lưu tiên sinh” chính là Lưu Đỉnh, 33 tuổi, người Tứ Xuyên, từng làm việc dưới quyền của Chu Ân Lai. Năm 1930, sau khi du học ở Liên Xô trở về Thượng Hải, Lưu Đỉnh đã đến báo cáo Chu Ân Lai và Chu đã bố trí cả hai vợ chồng Lưu Đỉnh - Ngô Tiên Thanh cùng làm việc tại phòng đặc vụ của Trung Cộng. Lưu thông minh, tháo vát, được Chu mến phục, còn Ngô quả là một nữ tướng: năm 1933 bà làm tổ trưởng điệp viên của cục tình báo Viễn Đông Quốc tế Cộng sản. Đang là đảng viên Trung Cộng, Lưu Đỉnh bỗng nhiên trở thành thư ký của tướng quân Quốc dân đảng – chuyện thật khúc khuỷu, dài dòng, song cũng đều bắt nguồn từ một quan điểm: “không liên Cộng kháng Nhật, ấy chỉ là nói suông…” và do đó, Trương Học Lương cần có đại biểu Trung Cộng bên cạnh làm “bạn”, làm “thư ký” – sứ mạng đó đặt lên vai Lưu Đỉnh. Tương tự, những Lý Khắc Nông, Cao Phúc Nguyên v.v… đều có nhiệm vụ “xe chỉ luồn kim”, họ làm nên cuộc mật đàm đêm nay giữa Trương - Chu ở nhà thờ xứ thành Diên An.

Từ “Phản Tưởng kháng Nhật” đến “Bức Tưởng kháng Nhật”

Tôi lớn lên ở Đông Bắc – Chu Ân Lai tự giới thiệu.

Tôi biết, Trương Học Lương đáp lại. – Thầy Trương Bá Linh cho tôi hay điều đó.

Trương Bá Linh, người Thiên Tân, đã có công sáng lập nên trung học Nam Khai, rồi đại học Nam Khai, và sau đó, năm 1948 đảm nhiệm chức Viện trưởng Viện khảo thí của chính phủ Quốc dân đảng. Năm 15 tuổi, Chu Ân Lai học trung cấp ở Nam Khai, và lúc ấy thầy hiệu trưởng chính là Trương Bá Linh. Chu lấy làm ngạc nhiên vì sao Học Lương cũng là học sinh của Trương Bá Linh? Đang khi phân vân như vậy thì Chu bỗng nghe Trương cười vang:

Trước đây tôi nghiện thuốc phiện, chích moóc-phin, nhưng nhờ Trương Bá Linh tiên sinh khuyên giải nên sau đó đã cai khử hoàn toàn, vì vậy mà tôn Người làm thầy!

Thế là chúng ta cùng chung một sư tổ – Chu Ân Lai nhanh chóng ứng khẩu và kết thúc phần hàn huyên xã giao để đi vào chủ đề mật đàm.

Về kháng Nhật, hai bên không cần nhiều lời, sớm đã nhất trí: quân Nhật chiếm Đông Bắc, Trương phải bỏ bản quán tha hương, Phụng quân trên dưới một lòng kháng chiến trả thù – điều ấy không hẹn mà gặp, thật phù hợp với chủ trương của Trung Cộng. Vấn đề còn lại là Tưởng Giới Thạch.

Chu Ân Lai trình bày lập trường của Trung Cộng: vì Tưởng Giới Thạch thi hành chính sách “yên trong rồi mới dẹp ngoài”, “yên trong” ở đây là “tiễu Cộng”, cho nên Trung Cộng chúng tôi phải đưa ra khẩu hiệu “kháng Nhật phản Tưởng”. Ông nói: “Dám xin Trương tướng quân cho ý kiến.”

Trương Học Lương rất trực ngôn. Ông nhận thấy Hồng quân là lực lượng kháng Nhật chân chính nhất – điều ấy không còn phải nghi ngờ gì nữa. Nhưng còn Tưởng Giới Thạch, theo quan sát của ông, Tưởng cũng có thể kháng Nhật; khẩu hiệu “kháng Nhật phản Tưởng” e không có lợi cho sự đoàn kết chống ngoại xâm. Trương trình bày thêm lí do: hiện nay Tưởng là phái có thực lực nhất trong nước, là chủ lưu của Quốc dân đảng; nếu “phản Tưởng” tức là gạt đi một lực lượng mạnh nhất. Tưởng nêu chính sách “yên trong rồi mới dẹp ngoài” tất nhiên là sai, nhưng chưa đến mức đầu hàng Nhật. Ông ta đang đứng giữa ngã ba đường. Trương nói:

Trong đám yếu nhân của Quốc dân đảng, tôi chỉ phục mỗi Tưởng Giới Thạch, ông ta có tinh thần dân tộc và năng lực lãnh đạo. Cho nên có thể hi vọng Tưởng kháng Nhật. Nhưng bên cạnh Tưởng Giới Thạch bao gồm nhiều phái thân Nhật, họ khiến ông ta không dám hạ quyết tâm đánh Nhật, vì vậy Tưởng đang lâm vào hoàn cảnh cực kì mâu thuẫn. Tôi chủ trương: bên trong chúng tôi khuyên, bên ngoài các ông bức, làm cho Tưởng Giới Thạch thay đổi chính sách sai lầm, đi lên con đường kháng Nhật với chúng ta. Nếu quả tình Tưởng Giới Thạch đầu hàng giặc ngoại xâm, thì tôi sẽ từ chức và làm theo cách của mình.

Chu Ân Lai chăm chú lắng nghe Trương Học Lương trình bày chủ trương “kháng Nhật thì phải liên Tưởng” và cảm thấy có lí:

Tôi tán thành ý kiến của tướng quân, nhưng đây mới chỉ là cá nhân tôi, tôi phải về báo cáo với Trung ương Trung Cộng bàn bạc và quyết định trước một chính sách lớn như thế này của tướng quân.

Trương Học Lương rất vừa lòng với câu trả lời của Chu Ân Lai. Cuộc mật đàm kéo dài đến 4 giờ sáng hôm sau. Trước khi chia tay, Trương tặng Chu tập bản đồ Trung Quốc vừa mới xuất bản với lời nguyện “cùng nhau bảo vệ Tổ quốc”.

Đoàn Trung Cộng trở về Ngoã Dao Bảo báo cáo Mao Trạch Đông, khi đi năm người, nay thêm Lưu Đỉnh nữa là sáu. Thật là trùng hợp: lúc 12 giờ đêm ngày 9 tháng 4 năm 1936, khi Chu Ân Lai đang mật đàm với Trương Học Lương tại nhà thờ xứ Diên An, Mao Trạch Đông đã điện báo cho Trương Văn Thiên hoãn phát lệnh “thảo Tưởng”.

Ngày 5 tháng 5 năm 1936, với danh nghĩa Chủ tịch nước Cộng hòa Xô-viết nhân dân Trung Hoa, Chủ tịch Hội đồng quân sự Hồng quân cách mạng nhân dân Trung Quốc, Mao Trạch Đông và Chu Đức trong “Thông điệp đình chiến, hòa đàm, nhất trí kháng Nhật” đã không sử dụng thuật ngữ “quân bán nước Tưởng Giới Thạch” nữa mà thay bằng cách gọi “ông Tưởng Giới Thạch” trung tính, không khinh không trọng. Ngày 1 tháng 9 năm đó (1936), Trung Cộng ban hành chỉ thị nội bộ chuyển khẩu hiệu “kháng Nhật phản Tưởng” thành “bức Tưởng kháng Nhật”.

Ngày cập nhật: