Ván cờ Mao - Trạch
Cách mạng Tân Hợi (1911) khép lại chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm ở Trung Quốc, mở ra một nền cộng hòa.
Tôn Trung Sơn - người khởi xướng chủ nghĩa Tam dân (Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc) sớm qua đời, để lại lời nhắn: “Cách mạng chưa thành công, đồng chí vẫn phải nỗ lực”.
Đảng Cộng sản với Mao Trạch Đông và Đảng Quốc dân với Tưởng Giới Thạch mỗi bên đi theo một hướng riêng. Có lúc cùng hợp tác - cùng tiến hành Bắc phạt, kề vai trong kháng Nhật - nhưng toàn cục vẫn là đấu tranh và nội chiến. Một bên là tư tưởng Mao Trạch Đông, một bên là chủ nghĩa Tưởng Giới Thạch; chính trường Trung Quốc hiếm khi yên ả.
Năm 1949, lịch sử ngả về Đảng Cộng sản và Mao Trạch Đông. Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, còn Quốc Dân Đảng Tưởng Giới Thạch rút ra Đài Loan và tiếp tục giữ tên Trung Hoa Dân Quốc.
Ở ngoài kia, Tưởng thúc đẩy kinh tế, biến Đài Loan thành “con rồng nhỏ”. Ở trong này, Mao cải tạo với ba ngọn cờ hồng - Đường lối chung, Công xã nhân dân, Đại nhảy vọt - rồi đến Cách mạng văn hóa kéo dài hơn một thập kỷ.
Về sau, Đặng Tiểu Bình đề xướng cải cách, mở cửa, mở ra một giai đoạn mới: thực hiện Bốn hiện đại, xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc và quyết tâm thống nhất đất nước, kể cả theo mô hình “nhất quốc lưỡng chế”.

Tiểu dẫn
Trung Hoa thế kỷ XX hiện ra như một ván cờ lớn, nơi từng nước đi đã quyết định vận mệnh của cả một dân tộc. Trên bàn cờ ấy nổi bật hai nhân vật lớn, hai cực đối lập: người chỉ huy quân xanh và người dẫn dắt quân đỏ.
Vị thống soái quân xanh: Tưởng Giới Thạch
Người cầm quân xanh xuất hiện với vẻ nghiêm cẩn: đầu trọc, khoác trường bào, phong thái của một nho sĩ cổ điển, kỹ tính. Ông nói Quan thoại đậm giọng Triết Giang, nhấn nhá từng câu, giữ lời trong khuôn phép. Nhưng sau vẻ đạo mạo ấy là một cá tính nóng nảy; lúc vội hay giận, ông thường buột miệng mắng: “娘希匹 (Niáng xī pǐ)!” (Mẹ kiếp!).
Vị thống soái ấy chính là Tưởng Trung Chính. Cuộc đời ông gắn với nhiều tên gọi, phản ánh những ước vọng lớn: từ tên phổ Chu Thái, học danh Chí Thanh, đến tự Giới Thạch. Chữ “Giới” nghĩa là lớn, “Giới Thạch” gợi hình ảnh tảng đá vững chãi (Cự thạch) - một cách diễn giải rút ra từ chữ “Thái” trong tên thuở nhỏ.
Người chèo lái quân đỏ: Mao Trạch Đông
Đối trọng trên bàn cờ là người cầm quân đỏ với phong thái khác hẳn. Tóc dài chải ngược, bộ đồ Trung Sơn giản dị, ông dẫn dắt bằng giọng Hồ Nam trầm bổng, điềm đạm. Ông hóm hỉnh, hay nói hay cười, nhưng khi nổi giận cũng không ngại văng lời tục: “放屁 (Fàng pì)!” (Nói láo/Đánh rắm!).
Đó là Mao Trạch Đông, từng dùng bút danh ẩn ý “Nhị Thập Bát Hoa Sinh” - một lối chơi chữ dựa trên 28 nét phồn thể của ba chữ Mao - Trạch - Đông. Chữ “Trạch” thuộc thứ tự tộc danh Tổ - Ân - Di - Trạch - Viễn, còn chữ “Đông” hướng về phía mặt trời mọc. Kính trọng Lương Khải Siêu (biệt hiệu Tử Nhậm), ông chọn tên chữ là Nhuận Chi. “Trạch” và “Nhuận” cùng gốc nghĩa, gợi hình ảnh “vũ lộ tư nhuận” - mưa móc tưới khắp thế gian, hàm chứa khát vọng đổi thay một thời đại.
Hai người sinh cùng thời, Tưởng Giới Thạch hơn Mao Trạch Đông 5 tuổi và mất trước 1 năm. Tưởng thọ 88 tuổi, Mao thọ 84; như vậy họ có tới 83 năm cùng sống trên thế gian này.
Về khí chất, hai người rất khác. Tưởng Giới Thạch mang phong thái quân nhân, dậy sớm luyện tập, thường đọc Tam Bảo Thư: “Truyện Bismarck”, “Tằng hồ trị binh ngữ lực” và “Tằng văn chính công gia thư”. Ông không hút thuốc, không uống rượu, thậm chí không uống trà, chỉ dùng nước đun sôi; thích hải sản tươi, rau muối xào cá hoặc rau khô Thiệu Hưng.
Mao Trạch Đông thiên về khí chất thi nhân, giỏi sáng tác thơ, thảo chương, đề từ; thức khuya dậy muộn, sách vở luôn kề bên. Ông đọc “Tư trị thông giám” không biết bao lần, từ rối loạn lịch sử tìm ra vài điều kinh bang tế thế. Mao chỉ uống chút rượu nho, nhưng hút thuốc rất nhiều, ưa trà đậm, ăn cay, và thường dùng thịt nướng như thuốc bổ não.
Về hành trình chính trị
Hành trình chính trị của hai người có nhiều điểm tương tự.
Năm 1924, Tưởng Giới Thạch được bổ nhiệm làm hiệu trưởng Trường sĩ quan lục quân Quốc dân đảng Trung Quốc (vì đóng quân tại Hoàng Phố - Quảng Châu nên thường gọi là Trường quân sự Hoàng Phố; đây cũng là nơi Phan Bội Châu liên hệ đưa thanh niên Việt Nam sang học một thời gian). Từ đó, thế lực của ông trong quân đội lớn dần, nắm quân quyền từ uỷ viên hội đồng quân sự lên Tổng giám, rồi Tổng Tư lệnh Quân cách mạng Quốc dân đảng. Với Tưởng, quân đội là sinh mệnh của đời mình.
Còn Mao Trạch Đông, mùa thu năm 1927 phát động khởi nghĩa nông dân ở Hồ Nam, giữ chức bí thư ban chấp hành tiền phương. Sau đó ông cùng Chu Đức hội quân tại Tĩnh Cương Sơn - Giang Tây, lập Quân cách mạng công nông Trung Quốc; Chu Đức làm chỉ huy, còn Mao là đại diện của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Từ đây Hồng quân Chu - Mao bắt đầu đối địch với Tưởng Giới Thạch, và câu nói “họng súng đẻ ra chính quyền” cũng từ đấy mà lan truyền.
Mao Trạch Đông từng nói Tưởng Giới Thạch “xem quân đội như sinh mạng”, “có quân đội là có chính quyền, đấu tranh giải quyết tất cả”. Ông cười và ví quân đội đối với Tưởng như “hòn đá treo trên cổ Giả Bảo Ngọc”; ông mỉa mai:
Về điểm này cần học ông ấy, và Tưởng Giới Thạch quả là tiên sinh của chúng ta!
Mao Trạch Đông cũng nói “Đảng viên cộng sản không dành binh quyền cho cá nhân, mà vì đảng và nhân dân”. Ông cho rằng “họng súng đẻ ra tất cả”, “thế giới chỉ có thể cải tạo bằng súng ống”.
Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch đều là bạn của Nixon (Tổng thống Mỹ). Nixon đã so sánh sự giống và khác giữa hai người như sau:
Hai ông đều là người phương Đông và có những trùng hợp lạ: Mao Trạch Đông ra nước ngoài chỉ 2 lần, năm 1949 và 1957, đều sang Moscow gặp lãnh đạo Liên Xô; Tưởng Giới Thạch cũng 2 lần, năm 1923 sang Liên Xô và năm 1943 dự hội nghị Cairo với tư cách một trong bốn cường quốc.
Ngoài công vụ, cả hai dành nhiều thời gian ở nhà, hiếm khi xuất ngoại; Mao làm thơ, Tưởng thì đi bộ, ngâm vịnh cổ thi. Mao phản đối sự chuyên chế của người cha và chế độ xã hội đương thời, Tưởng phản đối sự hủ bại và lệ thuộc nước ngoài của triều Mãn Thanh, cắt bím tóc đuôi sam trước Mao 7 năm; cả hai đều là nhà cách mạng.
Sự khác nhau giữa họ có điểm nhìn thấy ngay, có điểm sâu kín. Mao nói cười tự tại, trào lộng, châm biếm; Tưởng ít khi hàm tiếu và kín đáo hơn. Chữ viết của Mao như rồng bay phượng múa, không phân rõ hàng lối; còn Tưởng viết rất đoan chính, vuông vức, cách ô cách hàng cẩn thận.
Cả hai đều xem Trung Quốc là thiêng liêng, nhưng thể hiện khác nhau: Mao muốn quét sạch quá khứ, Tưởng chủ trương xây dựng từ nền cũ. Sau khi thắng lợi, Mao giản hoá chữ Hán để người dân dễ học (và theo tôi, điều này đã xoá bớt những lớp nghĩa lịch sử trong phồn thể). Tưởng thua trận, khi rút ra Đài Loan chỉ kịp mang theo 400.000 văn vật đồ cổ, để lại gần như toàn bộ trợ thủ, thuộc hạ từng trung thành ở lại Hoa Lục.
Tưởng Giới Thạch ưa sạch sẽ, ngăn nắp; văn phòng và doanh trại của ông luôn chỉnh tề, bóng loáng. Có lần lưu trú tại chiêu đãi sở Phúc Đại - Đài Loan, khi tản bộ ông thấy bãi phân chó bên vệ cỏ. Ông nổi giận, mắng viên chủ quản, khiến người này uất ức rồi chết. Mao Trạch Đông cũng sạch sẽ: trong cuộc Vạn lí trường chinh từ Hoa Nam lên Diên An, ông chưa từng ngủ trên giường của ai, mà qua đêm bằng các tấm ván cửa. Ông ưa sạch nhưng không ngăn nắp; văn phòng, thư phòng và giường ngủ đều bề bộn những chồng sách đọc dở. Mao thích đọc nhiều sách nội dung khác nhau, còn Tưởng đọc xong cuốn này mới chuyển sang cuốn khác.
Các văn bản phát biểu của Tưởng Giới Thạch phần lớn do thư ký dự thảo, ông sửa đi sửa lại nhiều lần. Ngược lại, Mao Trạch Đông có duyên cầm bút, tự thảo những gì sẽ nói sẽ đọc; một số bài phát biểu miệng do thư ký ghi tại chỗ rồi chỉnh lý, trình duyệt sau. Không những thế, Mao còn lấy danh nghĩa người bình luận của Tân Hoa xã, Nhân Dân nhật báo, Giải Phóng nhật báo để viết xã luận lấy tên Chu Đức hoặc Bành Đức Hoài.
Mao và Tưởng đối lập suốt cả đời. Với Tưởng, hai chữ “chống cộng” luôn là trục chính, và ngay cả khái niệm một nước Trung Hoa mà họ nhắc đến cũng khác nhau: một bên là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, một bên là Trung Hoa Dân Quốc.
Đối thủ của Tưởng Giới Thạch trong Quốc dân đảng là Uông Tinh Vệ và Hồ Hán Dân; qua nhiều vòng đấu tranh, đến hội nghị Vũ Xương tháng 3 năm 1939 ông mới được bầu làm Tổng tài, xác lập vị trí lãnh tụ. Đối thủ của Mao Trạch Đông là Vương Minh, Bác Cổ, Trương Quốc Đào; tới tháng 1 năm 1935, tại hội nghị Tuân Nghĩa, ông mới trúng cử Chủ tịch Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, trở thành lãnh tụ của đảng này.
Về đường gia thất
Về hôn nhân, hai người có những điểm khá tương đồng.
Năm 14 tuổi, do thân mẫu Vương Thái Ngọc chủ hôn, Tưởng Giới Thạch lấy Mao Phức Mai lớn hơn mình 5 tuổi làm vợ (về sau do chữ “Phức” khó nhận, nên sau đổi lại là Mao Phúc Mai). Khi lên Thượng Hải, ông chung sống với Diêu Di Thành người huyện Ngô, tỉnh Giang Tô, sau đó là Trần Khiết Như người Tô Châu; cuối cùng, với Tống Mỹ Linh kết thành vợ chồng chính trị. Người đời thường ghép chữ “Trung” trong Tưởng Trung Chính và chữ “Mỹ” trong Tống Mỹ Linh để gọi đó là cuộc hôn nhân “Trung Mỹ”.
Mao Trạch Đông cũng có bốn lần hôn thú. Năm 14 tuổi, ông vâng lời cha mẹ lấy con gái họ La hơn mình 4 tuổi, nhưng hai người chưa từng ăn ở với nhau. Sau đó, ở Trường Sa, Mao yêu Dương Khai Tuệ và kết hôn. Khi lên Tỉnh Cương Sơn, ông chung sống với Hạ Tử Trân, người Vĩnh Tân - Giang Tây. Thời kỳ ở Diên An, Giang Thanh - nữ diễn viên điện ảnh Thượng Hải (nghệ danh Lam Bình, tên thật Lý Vân Hạc) xuất hiện, và cuối cùng Mao chọn người này.
Ván cờ Mao Trạch
Tưởng Giới Thạch là một lãnh tụ độc tài với bàn tay sắt, thực hiện hình thức thống trị “tam nhất” (ba một):
- Một chính đảng: tức Quốc dân đảng
- Một chủ nghĩa: chủ nghĩa Tam dân
- Một lãnh tụ: chỉ Tưởng Giới Thạch mà thôi
Tháng 7 năm 1945, tại Diên An, Mao Trạch Đông nói:
Tưởng tiên sinh cho rằng thiên vô nhị nhật, dân vô nhị chủ, tôi không tin thuyết ấy nên cứ để hai mặt trời mọc lên cho ông ấy xem.
Quả nhiên, Trung Quốc xuất hiện cục diện “thiên hữu nhị nhật, dân hữu nhị chủ”; thật ra trước khi Mao nêu luận thuyết trên, cục diện này đã hình thành và tồn tại cho tới khi cả Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông đều qua đời.
Tưởng Giới Thạch một bên, Mao Trạch Đông một bên, bàn cờ là 9,6 triệu km2 lãnh thổ Trung Quốc; hai bên đã chơi một ván cờ làm chấn động cả một vùng trời.
Ghi lại cuộc cờ này là ghi lại một bộ lịch sử hiện đại của Trung Quốc. Trong cuộc đấu tranh ấy có đủ cảnh gươm đao, súng đạn, pháo kích, lửa cháy; cũng có lúc hai bên cử mật sứ, bàn việc nội trướng, vừa đánh vừa đàm, đàm rồi lại đánh. Hai bên không tiếc lời công kích: Tưởng chửi Mao là Mao phỉ, phỉ đỏ, cộng phỉ, gian đảng, gian quân…; ngược lại Mao chửi Tưởng là độc phu dân tặc, kẻ thù chung của nhân dân, tội phạm chiến tranh số một, bọn phỉ Tưởng… ngôn từ có phần phong phú hơn.
Có lúc hai vị chủ soái lại tay bắt mặt mừng, cụng ly, xưng hô lịch sự Mao tiên sinh, Tưởng tiên sinh. Những ngày hoà đàm ở Sơn Thành, Mao biết Tưởng không hút thuốc và không ưa người hút thuốc khi nói chuyện. Bạn bè cận thần của Tưởng là tay ghiền thuốc, mỗi lần gặp ông đều phải súc miệng sạch, tránh hơi thuốc. Mao không đến nỗi phải súc miệng, nhưng để tôn trọng Tưởng, ông cai thuốc khi ngồi vào bàn hoà đàm hay nói chuyện ngoài hành lang. Tiểu tiết ấy khiến Tưởng rất cảm động, ông nói với thuộc hạ:
Mao Trạch Đông, con người này không thể xem thường. Ông ta nghiện thuốc, hết điếu này sang điếu khác, nghe nói cả ngày phải cả ống (khoảng 50 điếu), vậy mà lúc biết ta không hút thuốc, Mao tiên sinh đã tạm ngừng khi đôi bên trò chuyện; tinh thần và quyết tâm ấy thật đáng trọng thị.
Còn Mao vốn dí dỏm, khi trả lời phỏng vấn báo chí Quốc dân đảng:
- Ngài có ấn tượng gì về Tưởng tiên sinh?
- Chữ Tưởng là chữ Tướng dưới bộ Thảo, nên có thể gọi Thảo đầu tướng quân!” (ông tướng có cỏ trên đầu).
Một năm sau đàm phán ở Trùng Khánh - 1946, nữ ký giả người Mỹ hỏi Mao về ấn tượng đối với Tưởng Giới Thạch. Ông chỉ trả lời gọn: “con hổ giấy!”
Quả nhiên, ba năm sau, Mao Trạch Đông chiếm trọn lục địa và chiến thắng Tưởng Giới Thạch!
Hôm nay, khói súng đã tan, trọng pháo thôi gầm; hai kỳ thủ, người trước người sau, đều đã rời nhân thế. Nghiên cứu hai kỳ thủ - cũng là hai người cầm cờ của hai đảng - và các thế cờ của cuộc cờ thế kỷ, ta thấy ảnh hưởng của họ lên vận mệnh Trung Quốc là điều đáng suy ngẫm.
Kỳ ngạn có câu “quân cờ làm bằng gỗ, nếu thua chơi lại!” (Kỳ tử mộc đầu tác, thâu liễu trùng lai quá), nhưng những ván cờ lịch sử thì không có cách chơi lại. Dẫu vậy, quay về quá khứ để suy tư và gợi mở, cũng không hề thừa.